Trang

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Tỷ phú 'không sợ chết' của Red Bull

Ngay từ đầu, Dietrich Mateschitz đã chọn chiến lược chỉ tài trợ cho những môn thể thao mạo hiểm để thể hiện sức mạnh vô địch của nước tăng lực Red Bull.

Bằng việc tài trợ chi phí cho toàn bộ cú nhảy từ độ cao 39 km của Felix Baumgartner, thương hiệu nước tăng lực nổi tiếng Red Bull đã cho cả thế giới thấy rằng chiến lược marketing của họ có thể vượt rất xa những ranh giới thông thường. Văn hóa "không sợ chết" của công ty này đã có từ rất sớm và bắt nguồn từ chính vị tỷ phú đồng sáng lập - Dietrich Mateschitz.

Mateschitz là một cựu chuyên gia marketing. Ông tốt nghiệp chuyên ngành này tại Đại học Thương mại Vienna (Áo) ở tuổi 28. Sau đó, Mateschitz đầu quân cho Unilever, Jacobs Coffee trước khi trở thành giám đốc marketing quốc tế cho Blendax - một công ty Đức kinh doanh kem đánh răng, kem dưỡng da và dầu gội, sau này được Procter & Gamble mua lại.
Tỷ phú Red Bull - Dietrich Mateschitz. Ảnh: Forbes

Vì tính chất công việc, Mateschitz phải đến rất nhiều nước trên thế giới. Trong một lần tới Thái Lan, ông đã biết đến một loại nước tăng lực được bán phổ biến tại châu Á. Đó là Krating Daeng của tỷ phú Thái Lan Chaleo Yoovidhya. Năm 1984, Mateschitz quyết định bỏ việc và cùng Yoovidhya lập ra một công ty nước tăng lực tại Thái Lan. Hai ông mỗi người đóng góp 500.000 USD và sở hữu 49% công ty, 2% còn lại thuộc về con trai Chalerm của Yoovidhya.

Mateschitz là người điều hành công ty, và trong ba năm, ông sửa đổi tất cả mọi thứ về loại nước uống này, từ công thức cho đến bao bì. Ông đặt tên sản phẩm này là Red Bull, biến nó thành nước uống có gas và đựng trong lon màu bạc - xanh lam đặc trưng. Khẩu hiệu "Red Bull chắp cánh cho bạn" được một người bạn của ông nghĩ ra sau đó và được sử dụng đến tận bây giờ.
Felix Baumgartner - người thực hiện cú nhảy kỷ lục dưới sự tài trợ của Red Bull. Ảnh: Red Bull

Có lần, Mateschitz còn cười nhạo một công ty tư vấn sau khi nghe họ nói rằng khách hàng sẽ không thích hương vị, logo và cả thương hiệu Red Bull của ông. Ông cho biết: "Khi mới bắt đầu, chúng tôi đã nói rằng thị trường cho Red Bull còn bỏ ngỏ. Chúng tôi sẽ tạo ra nó, và việc này cuối cùng đã trở thành hiện thực".

Bằng hiểu biết và kinh nghiệm về marketing truyền thống, ngay từ đầu, Mateschitz đã đi theo những chiến lược chẳng giống ai. Ông tài trợ cho cuộc thi Flugtag, trong đó, người tham gia sẽ tự chế tạo máy bay và cố gắng bay qua vùng nước càng xa càng tốt. Ông cũng chọn khách hàng mục tiêu là sinh viên và khách đến quán bar, khuyến khích họ pha lẫn Red Bull với rượu.

Ngoài ra, Mateschitz còn tài trợ cho các vận động viên thể thao, đặc biệt là ở những môn mạo hiểm. Đây là cách quảng bá hình ảnh mạnh mẽ của công ty hiệu quả hơn bất kỳ chiến dịch truyền hình nào. Mateschitz cho biết: "Chúng tôi luôn nhìn mọi việc theo cách sáng tạo và khác biệt".

Chiến lược này đã thành công vang dội. Red Bull hiện là thương hiệu nước tăng lực số một thế giới về thị phần. Bản thân Mateschitz cũng trở thành tỷ phú với số tài sản 5,3 tỷ USD, theo danh sách mới nhất của Forbes. Công ty của họ cũng có cổ phần tại hai đội bóng Red Bull Salzburg, New York Red Bulls, và đội đua ôtô công thức 1 - Red Bull Racing. Mateschitz còn sở hữu một khu nghỉ dưỡng sang trọng ở Fiji và một bộ sưu tập máy bay cổ.

Yoovidhya cũng nhanh chóng phát tài nhờ Red Bull. Tuy nhiên, ông đã qua đời ở tuổi 89 vào tháng 3 năm nay. Cuối tháng 9 vừa qua, cháu trai 27 tuổi của tỷ phú này - Vorayuth Yoovidhya còn gây xôn xao dư luận khi lái xe gây tai nạn rồi bỏ trốn.

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Làm giàu từ món ăn Việt ở Mỹ

Đặt chỗ ở nhà hàng Slanted Door của Charles Phan là một thử thách, bởi ở đây luôn chật kín khách đến thưởng thức những món ăn Việt không xa lạ nhưng được chế biến thành những tuyệt phẩm.

Dường như để khắc phục việc thực khách phải chờ hàng tuần để có cơ hội thưởng thức món mình nấu, ông chủ gốc Việt Charles Phan, 50 tuổi, đã ra mắt cuốn sách mang tựa đề "Vietnamese Home Cooking".


Phan cho biết cuốn sách gồm 226 trang, có giá 35 USD, đơn giản là sách hướng dẫn cách nấu món ăn Việt tại nhà, cung cấp hiểu biết chung về nền ẩm thực Việt Nam, cách thưởng thức món ăn.

Đặc biệt, cuốn sách tiết lộ những câu chuyện thú vị đằng sau những món ăn có trong thực đơn của Slanted Door từ khi mở cửa năm 1995 và kỹ thuật nấu nướng khiến những món ăn ở đây trở nên đặc biệt.

Cấu trúc cuốn sách của Phan không sắp xếp theo món ăn mà theo kỹ thuật nấu. Anh cho rằng mọi người chỉ thường mua sách để biết một công thức nấu ăn mà không hiểu được những quy tắc cơ bản và cách kết hợp các nguyên liệu.

"Nếu bạn học cách chiên, xào, om, nướng, cách kiểm soát ngọn lửa, bạn có thể làm bất cứ điều gì", San Joe Mercury News dẫn lời anh. "Về cơ bản cuốn sách tương tự những gì chúng tôi đang làm ở Slanted Door, quảng bá ẩm thực Việt với những nguyên liệu địa phương", anh nói.

Anh bắt đầu đi làm ở nhà hàng khi đang học cấp ba. Mỗi tuần Phan làm việc 3 buổi tối, cho đến tận hai giờ sáng và nấu bữa ăn 6 món cho 5 người bạn trong phòng ký túc xá. "Mọi người nghĩ tôi bị dở hơi", anh kể.


Anh trải qua nhiều công việc nhưng không thành công và quyết định đi du lịch một thời gian. Tuy nhiên, trong tâm trí anh, ước mơ về một nhà hàng vẫn luôn day dứt.

Bước ngoặt của cuộc đời Phan là khi anh đến châu Á năm 1994 và quyết định rằng "mình phải làm việc cho chính mình". Thế rồi nhà hàng Việt Nam Slanted Door ra đời một năm sau đó.

Đây là nhà hàng Việt Nam đầu tiên chuyên phục vụ các món ăn Việt chất lượng cao trong vùng, với các nguyên liệu địa phương tươi ngon nhập trực tiếp từ trang trại.

"Thừa thắng xông lên" sau Slanted Door, ông chủ Phan phát triển một "đế chế nhà hàng" nhỏ ở vùng vịnh San Francisco với những nhà hàng như Heaven's Dog, Academy Cafe hay Wo Hing General Store.

Năm 2004, anh giành giải Đầu bếp Giỏi nhất của Quỹ James Beard, giải thưởng được xem là "Oscars của Ẩm thực" Mỹ.

Phan cho biết bí quyết để nấu ngon là trước hết phải học cách ăn.

"Khi bạn thưởng thức nhiều món ăn ngon, bạn bắt đầu xây dựng cho mình vốn từ vựng về hương vị. Bạn hình dung ra hình ảnh món ăn và cách để làm chúng", anh nói.

"Đừng chỉ đến và nói với tôi rằng thức ăn rất tuyệt. Tôi nói thế với tụi trẻ con nhiều rồi. Mục tiêu của tôi là thực sự khiến mọi người nghiện thức ăn ngon. Có nhiều thứ gây nghiện, nhưng tôi nghĩ nghiện thức ăn thì tốt hơn, vì chúng ta tìm thấy niềm vui trong đó".

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Người lật ngược ngành công nghiệp thời trang

Bên trong tòa nhà trụ sở của tập đoàn Inditex ở thị trấn Arteixo, Tây Ban Nha, một cô người mẫu yểu điệu khoác lên mình bộ váy vừa mới được thợ may hoàn thành vài phút trước. Một nhóm nhà thiết kế, trông cũng đẹp không khác gì người mẫu, ngắm nghía rồi gật đầu tán thành.

Chỉ trong vòng vài tuần, mẫu váy này cùng hàng trăm mẫu thiết kế khác, bao gồm từ thời trang đường phố cho tới dành cho các sàn catwalk, sẽ xuất hiện tại hơn 1.600 cửa hiệu Zara tại 85 quốc gia trên khắp 6 châu lục.

Kể từ khi mở cửa hiệu đầu tiên trong căn nhà bên bờ biển ở La Coruna vào năm 1975, nhà sáng lập của tập đoàn dệt may Inditex với thương hiệu Zara - tỷ phú Amancio Ortega - đã xây dựng nên chuỗi bán lẻ thời trang lớn nhất thế giới. Thành công với Zara đã đem đến cho ông Ortega khối tài sản hiện thậm chí còn lớn hơn cả giá trị tài sản ròng của nhà đầu tư huyền thoại người Mỹ Warren Buffett.

Theo xếp hạng tỷ phú thế giới của hãng tin tài chính Bloomberg, tài sản của ông Ortega hiện ở mức 52,7 tỷ USD, đảm bảo cho ông vị trí giàu thứ 3 thế giới. Đứng ở vị trí thứ tư, Warren Buffett có 46,3 tỷ USD. Từ đầu năm đến nay, giá trị tài sản của ông Ortega đã tăng gần 50%, trong khi tài sản của ông Buffett mới tăng hơn 8%.

Tài sản của ông Ortega không ngừng tăng ngay cả khi quê hương Tây Ban Nha của ông vật lộn với khủng hoảng nợ công và chìm sâu vào suy thoái kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp của nước này hiện ở mức khoảng 25%, nghĩa là cứ 4 người lao động ở Tây Ban Nha thì có 1 người “vô công rồi nghề”. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm nhất trong 3 năm, tập đoàn dệt may với những dây chuyền sản xuất đề cao vấn đề tiết giảm chi phí vẫn đạt được mức tăng trưởng doanh số đáng nể.

“Thật lạ là những biến động kinh tế hiện nay lại ủng hộ những nhà bán lẻ như Zara. Ngày càng có nhiều người ham mê thời trang muốn tìm kiếm sự sành điệu ở mức giá phải chăng hơn”, nhà nghiên cứu về lĩnh vực bán lẻ Nancy Koehn thuộc Trường kinh doanh của Đại học Havard nhận xét. Nữ công tước xứ Cambridge, Kate Middleton, một biểu tượng thời trang của thế giới hiện nay, đôi khi vẫn xuất hiện trên mặt báo trong trang phục của Zara.

Inditex là từ viết tắt của Textile Design Industries in Spanish, tạm dịch là “Công nghiệp thiết kế dệt may ở Tây Ban Nha”. Doanh thu của hãng này trong 6 tháng đầu năm 2012 đạt mức 7,2 tỷ Euro, tương đương 9,3 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu tại thị trường Tây Ban Nha duy trì ở mức khoảng 1,6 tỷ Euro trong 6 tháng.

“Họ có phản ứng nhanh chóng với thời trang. Họ rất linh hoạt với sản phẩm của mình, và họ đang tăng trưởng tốt”, nhà quản lý quỹ Peter Braendle của Swisscanto Asset Management AG, một quỹ ở Thụy Sỹ có nắm cổ phiếu Inditex, nhận xét.

Tuy nhiên, theo những người làm việc cùng ông Ortega, thì việc giàu hơn cả tỷ phú Buffett không làm thay đổi con người của “ông trùm” ngành thời trang này.

Sau khi rời ghế Chủ tịch Hội đồng Quản trị Inditex vào năm ngoái, ông Ortega vẫn dành nửa tiếng mỗi ngày để đi từ tư dinh ở La Coruna tới trụ sở của tập đoàn ở Arteixo. Ông thường xuyên trò chuyện cùng các nhà thiết kế, chuyên gia về chất liệu và người mua hàng cho dòng sản phẩm Zara Woman dành cho nữ giới.

Mặc một bộ quần áo đơn giản, hiếm khi là của các thương hiệu do ông sở hữu, và có vẻ hơi chật, ông Ortega hăng hái tham gia vào mọi công việc của Inditex, từ việc tra khóa vào sản phẩm cho tới ra mắt trang web bằng tiếng Trung Quốc của Zara vào tháng 9 vừa rồi.

“Ông ấy vô cùng gần gũi với hoạt động sản xuất kinh doanh. Ông gặp gỡ và trò chuyện với tất cả mọi người”, ông Antonio Camunas, một người đã làm công tác cố vấn cho ông Ortega suốt hai thập niên cho biết.

Tiếc là ông Ortega, người giàu nhất châu Âu, từ chối dành cho Bloomberg một cuộc trả lời phỏng vấn.

Ông Camunas nhớ lại, khi ông bắt đầu làm việc cho ông Ortega vào đầu thập niên 1990, “đại gia” thời trang này khi đó vẫn chưa từng được phỏng vấn hay chụp ảnh đăng báo bao giờ. Ở thời điểm đó, có quá nhiều bí ẩn xung quanh người đàn ông đứng sau những cửa hiệu Zara hào nhoáng đang mọc lên khắp Tây Ban Nha. Người dân khi đó thậm chí còn đồn đoán rằng, Ortega hẳn là người đứng đầu một đường dây buôn lậu ma túy.

“Họ không hiểu là vì sao mà Ortega có thể làm được những việc mà ông đã làm”, ông Camunas nói.

Theo nhận định của bà O’Shea, người hiện là Chủ tịch của Trường kinh doanh thời trang ISEM ở Madrid, ông Ortega đã lật ngược ngành công nghiệp thời trang bằng cách đáp ứng những nhu cầu của khách hàng. Trước đây, bà O’Shea làm báo và bà là một trong số chỉ 3 nhà báo từng có bài phỏng vấn ông Ortega được đăng báo.

“Ông ấy nhận thấy rằng, thời trang cần phải là một thứ gì đó có thể tiếp cận, không phải chỉ dành cho một nhóm nhỏ. Thời trang với ông ấy là phải được ‘dân chủ hóa”, bà O’Shea cho biết.

Ông Ortega cũng không ngại “vay mượn” từ các thương hiệu thời trang xa xỉ. Vào năm 2008, hãng giày Christian Louboutin Sarl của Pháp đã đâm đơn kiện Inditex nhưng không thành công. Hãng này tố Inditex xâm phạm nhãn hiệu thương mại giày cao gót đế đỏ. Một đôi giày đế đỏ bình thường của Zara có giá chưa đầy 100 USD, trong khi một đôi tương tự của Louboutin “hét” giá trên 1.000 USD.

Inditex có 300 nhà thiết kế làm việc ở Arteixo, bên cạnh 100 nhà thiết kế ở Barcelona. Mỗi năm hãng tung ra khoảng 20.000 sản phẩm mới, dựa trên báo cáo từ các cửa hiệu xem sản phẩm nào đang bán tốt, sản phẩm nào bị tồn, sản phẩm nào bị khách chê. Một khi mẫu thiết kế đã được thông qua, robot với công nghệ từ hãng Toyota sẽ thực hiện cắt vải hàng loạt để may thành sản phẩm. Sau công đoạn là, hàng thành phẩm sẽ được gắn mác giá, gấp, và đóng gói rồi được hãng chuyển phát DHL giao hàng tới từng cửa hiệu Zara.

Hàng tồn kho của Inditex thường xuyên ở mức thấp vì công ty này liên tục đem mẫu mới đến các cửa hiệu thay vì chỉ ràng buộc các thiết kế theo mùa. Đây được đánh giá là một lợi thế của Inditex so với các công ty thời trang khác.

Inditex không trực tiếp sản xuất mọi sản phẩm của hãng. Đối với những sản phẩm ít tính thời trang hơn như quần jean hay đồ công sở, hãng thuê gia công khoảng một nửa tại các quốc gia có mức chi phí sản xuất thấp.

Là con của một công nhân đường ray, khi còn nhỏ, ông Ortega biết rõ thế nào là cái nghèo. Ông nghỉ học ở tuổi 13 để làm thuê các công việc lặt vặt cho một cửa hàng thời trang. Sau đó, ông cùng với anh trai và chị gái cùng vào làm cho một cửa hiệu khác. Tại đây, ông Ortega gặp Rosalia Mera, người vợ đầu tiên của ông. Vào năm 1963, anh em nhà Ortega cùng kinh doanh bằng cách sản xuất mặt hàng áo choàng tắm giá bình dân.

“Tôi nghĩ sẽ thật là không công bằng nếu chỉ có những phụ nữ giàu có mới được mặc đẹp”, ông Ortega nói trong một bài trả lời phỏng vấn vào năm 2003.

Những nỗ lực mở rộng kinh doanh được Ortega được thực hiện từ năm 1968 sau khi ông đến thăm một hội chợ hàng dệt may ở Paris. Đến năm 1975, ông đã có vài trăm nhân viên ở Arteixo và quyết định mở cửa hiệu Zara đầu tiên. Ban đầu, ông định lấy cái tên Zobra, nhưng sau đó lạ chuyển sang dùng cái tên Zara.

Đến năm 1990, ở bất kỳ thành phố nào có từ 100.000 dân trở lên ở Tây Ban Nha đều có một cửa hiệu Zara. Cái tên Zara đến lúc này cũng đã xuất hiện ở Paris và New York. Ông Camunas cho biết, ông Ortega có kỳ nghỉ đầu tiên trong đời chỉ sau khi Inditex phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào năm 2001.

Tuy kinh doanh phát đạt nhưng đời tư của ông Ortega có nhiều nỗi buồn riêng. Người vợ đầu Mera đã sinh hạ cho ông một cô con gái là Sandra và một cậu con trai là Marcos. Sandra hiện đã 44 tuổi và có tài sản trên 1 tỷ USD. Tuy nhiên, Marcos từ khi sinh ra đã bị ngớ ngẩn, trở thành một trong những nỗi khổ tâm lớn nhất của người cha tỷ phú.

Vào năm 1983, Ortega có quan hệ tình cảm với một nhân viên tên Flora Perez Marcote và sinh hạ được một cô con gái nữa tên là Marta. Ông ly dị với người vợ đầu, nhưng 20 năm sau đó mới cưới Flora. Hiện người vợ cũ Mera của ông vẫn là cổ đông lớn thứ nhì của Inditex, sở hữu khối tài sản khoảng 5,2 tỷ USD.

“Điều khiến tôi hối tiếc nhất là không có đủ thời gian cho gia đình”, ông Ortega từng tâm sự với bà O’Shea.

Ông Ortega có lối sống tiết kiệm, nhưng chiều theo sở thích cưỡi ngựa của con gái út, ông đã xây một trung tâm cưỡi ngựa ở gần La Coruna. Trong số 3 người con của ông, thì chỉ có con gái út Marta là làm việc cho Inditex. Nhiều khả năng, Marta sẽ trở thành người đứng đầu Inditex trong tương lai.

Năm ngoái, ông Ortega đã có một bước đi quan trọng trong kế hoạch kế nhiệm của mình khi bổ nhiệm Giám đốc điều hành Pablo Isla vào vị trí Chủ tịch Inditex. Vào năm 2001, ông đã thành lập một quỹ có tên Fundacion Amancio Ortega, chủ yếu phục vụ cho các hoạt động giáo dục. Ông vẫn chưa phát tín hiệu xem sẽ làm gì với khối tài sản khổng lồ của mình sau khi qua đời.

Ngoài thời gian dành cho Inditex, ông Ortega thường xả hơi bằng bơi lội vào đọc sách báo cùng bạn bè tại một câu lạc bộ ở La Coruna. Một nhân viên bồi bàn cho biết, đôi khi anh nhìn thấy ông Ortega rảo bước đi dạo trong tòa nhà bằng đá Plaza Maria Pita ở La Coruna, bởi ông cũng muốn có những phút giây thật riêng tư, cho dù ông là tỷ phú giàu thứ ba thế giới.

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Masayoshi Son: Kẻ "đánh bạc" liều lĩnh

Khi còn là sinh viên Đại học California, Masayoshi Son đã phát minh ra chiếc máy phiên dịch ngôn ngữ biết nói và bán nó cho tập đoàn điện tử Nhật Sharp với giá ước tính 100 triệu yen. Điều đáng nói là chàng sinh viên 19 tuổi khoa kinh tế học đến từ Nhật này xưa nay chưa bao giờ phát minh ra cái gì cả.

Ông Masayoshi Son, Tổng Giám đốc của tập đoàn điện thoại di động Nhật SoftBank.


Son cũng chẳng có tí vốn lận lưng nào và cũng chẳng có kiến thức gì về công nghệ. Cái mà Son có chỉ là sự tự tin và quyết tâm làm tới cùng những mục tiêu đã đặt ra.

Chính nhờ bản lĩnh, cá tính mạnh mẽ cùng sự kiên trì, bền bỉ, Son đã thuyết phục được những người sở hữu các kỹ năng, kiến thức mà ông thiếu tham gia dự án đầy tham vọng của mình. Trong đó, có cả một chuyên gia hàng đầu thế giới về ngôn ngữ ông chưa từng gặp trước đó bao giờ.

Kiên trì đến cùng

Hiện nay, vị Tổng Giám đốc (CEO) 55 tuổi của SoftBank, một tập đoàn điện thoại di động Nhật, đang cai quản cả một đế chế thương mại rộng khắp nước Nhật. Và đế chế này đang vươn ra thế giới với tuyên bố đầy bất ngờ vào giữa tháng 10/2012 rằng sẽ mua lại 70% cổ phần của Sprint Nextel, nhà khai thác dịch vụ di động lớn thứ ba nước Mỹ với giá 20,1 tỉ USD.

Thương vụ này sẽ tạo ra một tập đoàn di động với tổng cộng 96 triệu người sử dụng và doanh thu 81 tỉ USD, đưa nhà khai thác dịch vụ di động lớn thứ ba nước Nhật SoftBank trở thành tập đoàn đứng thứ ba trên toàn thế giới, chỉ sau AT&T Wireless và Verizon. Sau khi thương vụ kết thúc, Công ty Sprint mới sẽ gồm 10 thành viên Hội đồng Quản trị, trong đó phần lớn là do Tổng Giám đốc SoftBank chỉ định.

Về phần mình, Son sẽ hoàn thành được lời hứa vào năm 2006 khi ông mua lại bộ phận điện thoại di động Nhật của Vodafone để qua mặt đối thủ trong nước NTT DoCoMo trong vòng 10 năm. “Lúc đó mọi người đều cười nhạo tôi”, ông nhớ lại.

Nhưng giờ thì ít ai dám chế nhạo ông. Theo Tạp chí Forbes, Masayoshi Son là người giàu thứ ba nước Nhật với khối tài sản 6,9 tỉ USD. Nếu thương vụ Sprint Nextel tiếp tục xuôi chèo mát mái thì tập đoàn sau sáp nhập sẽ có doanh thu hằng năm 81 tỉ USD, trong khi DoCoMo chỉ có 54 tỉ USD.

Liệu thương vụ này có quá tham vọng khi SoftBank không có kinh nghiệm trên các thị trường ngoài nước Nhật? Mặc dù SoftBank đang bơm vào Sprint Nextel 8 tỉ USD cùng với công nghệ về truyền tải dữ liệu di động tốc độ cao, nhưng tập đoàn này vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn tại Mỹ, nơi Sprint cũng đang chật vật bám đuôi các đối thủ trong nước với chỉ 16% thị phần.

Thế nhưng, như từng chứng kiến qua thương vụ Vodafone, Son đã luôn làm cho giới phê bình phải kinh ngạc và dập tan mọi hoài nghi về khả năng của ông. Và lần này, có thể Son sẽ lại đúng.

Bản thân Son rất tự tin rằng mình sẽ làm được. “Chúng tôi có một chiến lược và có một kế hoạch vững chắc để biến nó trở thành hiện thực. Hãy chờ mà xem”, ông nói.

Tuổi thơ cơ cực

Son lớn lên ở khu phố người Hàn Quốc nghèo khổ ở Tosu, một vùng nông thôn xa xôi nằm ở phía Tây Nam Tokyo (ông bà của Son là người Hàn Quốc nhập cư vào Nhật). Cha ông chăn nuôi heo và bán rượu lậu trước khi bắt đầu thử sức ở lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, bất động sản và các tiệm chơi máy giật xèng (đánh bạc).

Khi còn là một cậu bé, Son đã cùng bà nội đi lượm thức ăn ở thùng rác nhà hàng xóm để về cho heo ăn. Khi đó, Son ngồi trên đống thức ăn thừa chở bằng chiếc xe kéo bằng tay. “Chúng nhầy nhụa và rất kinh khủng. Tất cả mọi người trong gia đình đã phải làm việc rất cực khổ”, Son nhớ lại.

Từ nhỏ, Son đã sớm xây dựng một niềm tin vững vàng vào năng lực của mình mà sau này ông đã khai thác triệt để trong kinh doanh. Điều này càng được củng cố nhờ sự động viên và niềm tin của cha ông rằng một ngày nào đó Son sẽ là nhân vật số 1 tại Nhật.

“Tôi bắt đầu nghĩ rằng mình không nên hài lòng với việc làm một con người bình thường và rằng tôi là một thiên tài”, ông nói.

Năm 1981, chẳng được trang bị gì nhiều ngoài sự tự tin vốn có và lòng khâm phục đối với Soichiro Honda, nhà sáng lập hãng xe Honda, Son đã rời nước Mỹ, quay lại quê nhà, thành lập một cửa hàng ở Fukuoka, thuộc đảo Kyushu.

Từ việc đặt “căn cứ” tại một ngôi nhà gỗ 2 tầng đã xuống cấp, Công ty của Son, tiền thân của SoftBank, đã nhanh chóng bành trướng trở thành nhà phân phối phần mềm và máy tính cá nhân lớn nhờ tận dụng được cơn sốt tiêu dùng máy tính.

Sau đó, Son đã vươn ra lĩnh vực băng thông rộng và đầu tư vào một loạt các công ty từ Yahoo! cho đến TV Asahi, Aozora Bank và Nasdaq Japan.

Khi liên tục chuyển hướng chiến lược như vậy và cùng với các khoản đầu tư dường như hơi ngẫu hứng đã khiến cho nhiều người chỉ trích ông là người cơ hội, chỉ giỏi phát hiện, đánh hơi thương vụ nhưng lại không có đủ nguồn lực để phát triển nên những công ty thực sự.

Việc ông không ngại rót một số tiền khổng lồ vào các lĩnh vực kinh doanh mới đã khiến cho một giám đốc tài chính của SoftBank tỏ ra lo ngại về việc Công ty sẽ giống như “một chiếc xe đạp sẽ té ngã nếu bạn ngừng đạp”. Nhưng Son phản bác lại một cách cứng rắn: “Vậy thì hãy đạp mạnh hơn”.

Hong Liang Lu, một người bạn lâu năm và cũng là đối tác kinh doanh của Son, mô tả Son là “kẻ đánh bạc có giấc mơ”. Cho đến nay, canh bạc của Son trong lĩnh vực điện thoại di động đã đơm hoa kết trái.

SoftBank là công ty đầu tiên bán ra chiếc iPhone tại Nhật với chiến dịch marketing rất khác thường vào năm 2007 về một gia đình đa sắc tộc có cha là một chú chó. Chiến dịch này được đánh giá là một trong những chiến dịch marketing thành công nhất tại Nhật lúc đó, đã giúp SoftBank tăng gấp đôi lượng người thuê bao và bám sát gót 2 đối thủ DoCoMo và KDDI.

Và Son cũng giành được tiếng tăm là một chàng David khác người đã chống lại được cùng lúc với 2 gã khổng lồ Goliath của ngành điện thoại di động. Son hy vọng có thể lặp lại thắng lợi này với Sprint Nextel tại Mỹ và đưa đế chế di động của ông trở thành lớn nhất thế giới trong khi ông còn sống.

Hiện tại, Son đã lên kế hoạch tấn công thị trường này. Mặc dù Dan Hesse, Tổng Giám đốc Sprint Nextel, sẽ tiếp tục giữ vị trí CEO, nhưng Son lại là người bắn phát súng đầu tiên trong cuộc chiến cam go giành thị trường ở Mỹ.

Ngày 18/10, Sprint Nextel đã công bố kế hoạch nâng cổ phần sở hữu tại Clearwire, nhà cung cấp dịch vụ băng thông di động có độ phủ sóng cao, nhằm tăng cường sức mạnh cho Sprint Nextel trong việc đối đầu với AT&T và Verizon Wireless. Điều này sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự chống lưng của SoftBank.

Khi còn là một sinh viên ở Berkeley, Son đã vạch ra kế hoạch cho cả đời: xây dựng nên một sự nghiệp lớn trong độ tuổi 40-50 và chuyển giao quyền lực cho người kế vị trong độ tuổi 60.

Ở độ tuổi 55, ông đang trong trận chiến cam go đối đầu với những gã khổng lồ trong ngành dịch vụ di động. Và mục tiêu nói trên của Son, vốn đang hừng hực sức sống, có thể sẽ phải được hoãn lại.

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Từ cậu bé phải ngủ cho quên đói trở thành “vua thép”

Andrew Carnegie được mệnh danh là vua thép của nước Mỹ. Xuất thân bần hàn, nhưng nhờ nỗ lực vượt khó, ông đã trở nên giàu có. Ông còn được biết đến như người giúp tạo ra nhiều triệu phú USD nhất.

Không chỉ nổi tiếng về độ giàu có, Carnegie còn được biết đến với tư cách là một tỷ phú giàu lòng bác ái, từng đóng góp tới 90% tài sản cá nhân tương đương với gần 350,7 triệu USD làm từ thiện.

Năm 2007, ông từng được tạp chí Fortune bình chọn là người giàu thứ 6 trong lịch sử Mỹ.

Andrew Carnegie chào đời trong một ngôi nhà nhỏ ở Dunfermline, Scotland vào ngày 25/11/1835.

Nhiều thế hệ nhà Carnegie nổi tiếng với nghề dệt vải bằng khung cửi, nhưng cuộc cách mạng công nghiệp đã khiến việc kinh doanh của họ bị đổ vỡ.

Gia đình Andrew Carnegie trở nên nghèo khó tới mức hàng ngày họ phải đi ngủ sớm để "quên đi cái đói khủng khiếp đang hành hạ". Năm 1848, gia đình ông rời quê hương sang Mỹ – miền đất hứa của rất nhiều người lao động nghèo châu Âu thời ấy. Và khi thấy người cha phải đi xin xỏ việc làm, Carnegie đã thấy trong tim mình một sự thôi thúc.

Năm 12 tuổi, gia đình Carnegie đã chuyển tới thành phố Pittsburgh, nơi hai người dì của ông đang sinh sống. Cả nhà họ phải ngủ chung với nhau trong một căn phòng.

Lên 13 tuổi, ông bắt đầu làm việc cho một nhà máy dệt. Công việc của ông là vận hành một động cơ hơi nước nhỏ và đốt nóng một cái nồi hơi trong hầm chứa của nhà máy sản xuất cuộn chỉ. Và đêm nào, ông cũng gặp ác mộng nồi hơi của nhà máy bị phát nổ.

Năm 1849, ông chuyển sang làm chân giao điện tín. Chính công việc này giúp ông biết và ghi nhớ được tên của hầu như tất cả doanh nghiệp và những nhân vật quan trọng trong vùng.

Năm 17 tuổi, Carnegie vào làm ở hãng đường sắt Pennsylvania với vai trò trợ lý và là nhân viên điện báo cho Thomas Scott, một trong các quan chức hàng đầu của ngành đường sắt. Công việc này giúp ông tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm về công nghiệp đường sắt và kinh doanh nói chung. Lương của ông khi đó là 35 USD/tháng.

3 năm sau, Carnegie được thăng chức làm người giám sát. Khi làm việc ở đây, Carnegie cũng bắt đầu đầu tư. Khoản đầu tư đầu tiên của ông là số cổ phiếu trị giá đến 600 USD của một công ty đường sắt. Chỉ ít lâu sau, ông đã bán lại số cổ phiếu này và thu được hàng chục nghìn USD. Bên cạnh ngành đường sắt, ông cũng đầu tư vào công nghiệp khai thác dầu mỏ và thu được nhiều khoản hời lớn.

Năm 1865, ông rời công ty đường sắt và chuyển tới New York để theo đuổi những sở thích kinh doanh riêng. Tại đây, ông cùng mẹ đã thuê một phòng ở khách sạn St Nicholas.

Trong 10 năm kế tiếp, Carnegie dành hầu hết thời gian cho ngành thép. Công việc của ông tại Công ty Thép Carnegie đã mở ra thời kỳ cách mạng hóa hoạt động sản xuất thép ở Hoa Kỳ.

Trong 10 năm kế tiếp, Carnegie dành hầu hết thời gian cho ngành thép. Công việc của ông tại Công ty Thép Carnegie đã mở ra thời kỳ cách mạng hóa hoạt động sản xuất thép ở Hoa Kỳ.

Năm 1897, Carnegie trở lại Scotland và bỏ tiền mua tòa lâu đài Skibo. Ông gọi khu bất động sản này "thiên đường trên trái đất".

Năm 1900, Công ty Thép Carnegie đã sản xuất ra lượng thép nhiều hơn cả nước Anh.

Năm 1901, Carnegie đã thay đổi cuộc đời mình khi bán công ty cho United States Steel Corporation, thuộc sở hữu của huyền thoại tài chính J. P. Morgan. Thương vụ này mang về cho ông 480 triệu USD (tương đương 309,2 tỷ USD ở thời điểm hiện nay).

Ở tuổi 65, ông quyết định dùng hết thời gian còn lại để giúp đỡ người khác. Ông bắt đầu xây dựng thư viện, trường học và đóng góp từ thiện. Ông đã đóng góp khoảng 5 triệu USD cho Thư viện Công cộng New York, giúp thư viện này mở thêm một số chi nhánh năm 1901.

Andrew Carnegie từng nói với nhiều người, những tri thức và hiểu biết của ông đều do tự học và tự đọc qua sách mà có cả. Ông đã tài trợ cho gần 3.000 thư viện, công viên, giáo dục, nghệ thuật... Ứớc tính ông đã đóng góp 60 triệu USD cho các thư viện, 78 triệu USD cho giáo dục, tặng các giáo đường 7.000 đàn piano… Tỷ phú Carnegie đã qua đời ngày 11/8/1919.


Tốt nghiệp y khoa, thành danh với cặp sách

Tốt nghiệp y khoa nhưng Nguyễn Trí Kiên lại thành danh với ngành sản xuất cặp học sinh, ba lô, va li cần kéo… Càng bất ngờ hơn khi doanh nhân trẻ này với sản phẩm cặp siêu nhẹ cho học sinh mà anh “khai sinh” đã nhanh chóng đánh bật cặp xách Trung Quốc vốn làm mưa làm gió trên thị trường.

Nguyễn Trí Kiên - người "đánh bật" cặp xách Trung Quốc vốn làm mưa làm gió trên thương trường

Bước ngoặt cơ duyên

Sau bao năm tháng lăn lộn trên thương trường, giờ Nguyễn Trí Kiên đã trở thành Tổng giám đốc Công ty TNHH may túi xách Minh Tiến, trụ sở ở P.3, Q.8, TP.HCM.

Thoạt đầu mới gặp trông anh có vẻ là người trầm tĩnh nhưng càng nói chuyện với anh, sẽ càng nhận ra bên trong vẻ trầm tĩnh ấy luôn nung nấu những khát khao vươn lên với ngành may túi xách vốn là nghề truyền thống của gia đình anh bao năm nay.

Thật ra cho đến khi đã tốt nghiệp đại học, Nguyễn Trí Kiên vẫn chưa hề nghĩ rằng có ngày anh lại trở thành doanh nhân. Bố mẹ anh sống bằng nghề may túi xách, cặp học sinh rồi bỏ mối ở các chợ. Chỉ là cơ sở nhỏ nên ba mẹ anh phải quần quật suốt ngày để anh chuyên tâm học hành, trở thành bác sĩ như mong ước của mọi người trong gia đình.

Khó khăn buổi đầu không thể nói hết khi Nguyễn Trí Kiên rẽ sang “chiến đấu” trên thương trường. Khắc phục điều này, anh không ngừng học hỏi kiến thức và tích lũy kinh nghiệm về kinh doanh để lèo lái “con thuyền” của mình sao cho nó không bị chìm trong những ngày đầu khởi sự doanh nghiệp.

Chính sự ham học hỏi ấy đã giúp anh từng bước gầy dựng cơ ngơi thành công như kỳ vọng. Ra trường, anh vừa làm việc ở bệnh viện, vừa tiếp tục học chương trình sau đại học để nâng cao kiến thức.

“Công việc của một bác sĩ nhi lúc đó cũng khá tốt với tôi. Sở dĩ tôi nghỉ việc ở bệnh viện, về phụ giúp ba mẹ vì là con trai duy nhất trong gia đình, tôi muốn gánh vác bớt những khó khăn, cực nhọc cho ba mẹ và các em.

Lúc ấy, tôi nghĩ mình chỉ tạm ngưng nghề bác sĩ một vài năm, khi nào việc kinh doanh của gia đình khá lên một chút thì tôi có thể yên tâm trở lại công việc mình yêu thích. Nhưng không ngờ tôi lại thích và theo luôn nghề này cho đến hôm nay. Đó như là một bước ngoặt cơ duyên đối với tôi”, anh Kiên tâm sự.

Đánh bật cặp xách Trung Quốc
Bước tiến quan trọng của doanh nghiệp do Nguyễn Trí Kiên làm quản lý là nhờ không ngừng sáng tạo, làm ra những sản phẩm hoàn hảo về chất lượng, tạo cảm giác thoải mái cho người sử dụng.

Bây giờ lên miền núi hay đến những vùng nông thôn xa xôi, thật không khó nhận thấy cảnh những em học sinh mang túi xách thương hiệu Miti tung tăng đến trường. Để có được sức lan tỏa rộng lớn như vậy thật sự là cả một quá trình miệt mài nỗ lực của tập thể Minh Tiến.

Những năm thập niên 90 của thế kỷ 20, chuyện tạo dựng thương hiệu còn khá mơ hồ, nhất là trong ngành túi xách. Người ta chỉ biết sản xuất rồi mang ra chợ bán, chứ không nghĩ phải tạo ra một cái tên để người tiêu dùng nhớ đến sản phẩm của mình.

Thời điểm đó chưa có những đơn vị tư vấn về thương hiệu như bây giờ, nên mọi thứ tôi đều phải tự làm. Đã có nhiều cái tên được viết ra và đến giờ tôi vẫn còn giữ cuốn sổ ghi những cái tên ấy. Tôi nghĩ rằng, một sản phẩm, một thương hiệu thành công đầu tiên là nhờ cái tên và tôi đã làm được điều đó”, anh Kiên nhớ lại.

Một điều oái oăm là mặc dù khi đã có thương hiệu Miti gắn lên túi xách, cặp học sinh, ba lô... lần đầu tiên do cơ sở Minh Tiến sản xuất với chất lượng tốt nhưng ra thị trường thì bị lâm vào cảnh “hồn Trương Ba da hàng thịt”. Lý do là người tiêu dùng thời đó quen với hàng nhái, hàng giả các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài, chứ hàng của Việt Nam sản xuất thì chính người dân của mình lại không ưa.

“Lúc ấy các đầu mối phân phối hàng ở Chợ Lớn rất quyền lực. Thật sự các nhà sản xuất không ai dám làm phật lòng, lúc nào cũng phải cung phụng, chiều chuộng họ. Chúng tôi gắn nhãn Miti vào sản phẩm rồi chuyển cho họ bán thì đều bị giật ra, tự gắn nhãn khác vào”, anh Kiên kể.

Kiên trì với mục tiêu đã đề ra, anh tính đến chuyện lập hệ thống phân phối thông qua chuỗi cửa hàng Miti, thay cho kênh phân phối truyền thống lâu nay. Một năm sau khi Minh Tiến tung sản phẩm cặp siêu nhẹ mang tính đột phá (chỉ nặng 600 gr) ra thị trường, các đơn vị khác cũng bắt tay vào sản xuất loại cặp này và đã đánh bật được cặp xách Trung Quốc trước đó vốn làm mưa làm gió tại thị trường Việt Nam.

Khát vọng vươn ra biển lớn
Từ một cơ sở sản xuất gia đình với vỏn vẹn hơn 10 người thợ, chủ yếu làm hàng chợ chẳng mấy tên tuổi nhưng đến nay sản phẩm của Miti chiếm khoảng 30 - 40% thị trường ở TP.HCM và hứa hẹn sẽ còn tăng thêm trong thời gian tới.

Minh Tiến đang có hai nhà máy công suất 500.000 sản phẩm/năm, sản xuất 8 nhóm sản phẩm: cặp học sinh, va li, ba lô, ví da, thắt lưng, cặp công sở và túi du lịch với doanh thu hơn 100 tỉ đồng mỗi năm, hệ thống cửa hàng trải dài khắp cả nước.

Đặc biệt là sản phẩm của Miti đã giúp cho các thế hệ học sinh không còn nguy cơ bị lệch cột sống, không bị biến dạng thể chất như các sản phẩm nặng nề, kém chất lượng trôi nổi trên thị trường.

Nhưng Miti vẫn chưa muốn dừng lại. Kiên bảo vẫn phải luôn cập nhật kiến thức liên tục để gầy dựng mô hình “công ty học tập”, huấn luyện nhân viên, mang lại cho họ những khát vọng và có chung tầm nhìn để cùng đưa doanh nghiệp vươn ra biển lớn.

Sự cẩu thả trong sản xuất hàng tiêu dùng không chỉ giết chết doanh nghiệp mà còn gây tác động tiêu cực đến đời sống xã hội. Vì thế điều quan trọng là mình không chỉ bán sản phẩm mà còn phải bán niềm vui cho người tiêu dùng.

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

Triết lý khởi nghiệp của "nghệ sĩ sushi"

Jiro Ono Sushi, một quán sushi nhỏ với diện tích chỉ hơn 50 mét vuông đã trở thành một nhà hàng nổi tiếng của cả Nhật Bản với thực đơn sushi được cho là ngon nhất thế giới.

Để được thưởng thức tại nhà hàng này, khách hàng cần đặt chỗ trước ít nhất 3 tháng. Jiro Ono, người chủ nhà hàng 85 tuổi được vinh danh là nghệ sĩ sushi hàng đầu Nhật Bản đã có 70 năm làm việc với thực đơn chỉ là sushi.
Chân dung "nghệ sĩ sushi"

Đài truyền hình CNBC đã sản xuất một bộ phim tài liệu về cuộc đời và “sự nghiệp sushi” của Jiro Ono mang tên “Jiro Dreams of Sushi” được rất nhiều người trẻ trên toàn thế giới đón nhận nhiệt tình. Họ bị chinh phục bởi một triết lý khởi nghiệp đầy nhân văn và văn hóa làm việc của người Nhật Bản. Từ một cửa hàng sushi nhỏ, Jiro trở thành một biểu tượng và niềm tự hào ẩm thực của Nhật Bản.

Triết lý khởi nghiệp của Jiro được gọi là “triết lý sushi” đã gợi ý cho chúng ta những bài học quan trọng sau:

Bạn phải yêu công việc của bạn
Jiro tâm sự: “Một khi đã quyết định về nghề nghiệp của mình, bạn phải nhấn chìm chính mình vào công việc, bạn phải yêu say đắm và không bao giờ được phàn nàn về nó. Bạn phải hiến dâng cả cuộc sống của mình để biết hết và làm chủ tất cả mọi kỹ năng cần thiết. Đó là bí quyết của thành công và là chìa khoá của sự vinh danh”.

Có một điều cần ghi nhớ rằng, Jiro không nói “hãy tìm công việc bạn yêu thích”, mà ông nhấn mạnh “bạn phải yêu công việc bạn đã chọn”.
Ở Jiro Ono Sushi có tới 20 món sushi, nhưng chỉ sushi mà thôi

Điều này có nghĩa là với công việc, bạn phải ý thức và nuôi dưỡng tình yêu giống như trong hôn nhân vậy. Điều này hoàn toàn khác sự yêu thích của tuổi trẻ bồng bột, một sáng thức dậy thấy háo hức muốn thực hiện một điều gì đó thế rồi vỡ mộng và chán chường sau đó vài tuần khi va chạm những thử thách. Tình yêu công việc đòi hỏi một sự cống hiến gần như trọn đời.

Điều này gợi cho chúng ta nhớ đến hai cụm từ phổ biến “làm việc vì tiền” và “làm việc vì lòng say mê”. Niềm đam mê công việc là hành trình thực hiện một ước mơ, có đôi lúc chúng ta phải chịu đựng những điều kiện làm việc cực nhọc, để rồi chúng ta có thể tận hưởng cuộc sống khi thành công.

Không quá tệ nếu chúng ta bị trách là chỉ biết “làm việc vì tiền”, nhưng “làm việc bằng lòng say mê” là một cuộc cách mạng trong mối quan hệ giữa chúng ta và công việc, là cơ sở để nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chuyên môn hóa và đơn giản hóa

Sushi được định nghĩa như một món ăn đơn giản, nhỏ gọn. Nhưng chính Jiro đã đưa món ăn này lên một cấp độ mới. Khác với những nhà hàng khác, Jiro không phục vụ các món ăn như khai vị hay tráng miệng, thay vào đó thực khách được phục vụ với 20 món sushi đầy đủ mùi vị, và chỉ sushi mà thôi.

Điều đặc biệt, nhà hàng của Jiro chỉ có 10 chỗ ngồi, điều này giúp cho các nhân viên của ông được tập trung để làm ra các món sushi ngon nhất. Họ cũng có thể giúp họ quan sát chi tiết tính tình của từng khách hàng và phục vụ tốt nhất.
Không gian nhỏ của nhà hàng giúp nhân viên có thể quan sát hiểu hiện của từng khách hàng để có thể phục vụ tốt nhất

Yoshikazu, con trai đầu của Jiro - người hiện nay được kế thừa quản lý nhà hàng cho biết, các nhân viên trong nhà hàng làm công việc lặp đi lặp lại hàng ngày như nhau, điều đó tạo điều kiện họ làm chủ đầy đủ các kỹ năng nhỏ nhất và tạo ra các món sushi có chất lượng rất ổn định.

Jiro cũng làm đi làm lại công việc của ông hàng ngày trong suốt 70 năm, điều đó giúp cho ông hiểu rõ tất cả mọi điều về thế giới sushi. Sự sáng tạo của ông cũng chỉ tập trung trong ngành hẹp là sushi thay vì đi theo chiều rộng. Ông đã đưa món sushi của mình thành một môn nghệ thuật đầy hấp dẫn.

Sự hy sinh

Khi các bạn quyết định chọn kịch bản cho cuộc đời mình là “làm công việc mình yêu thích” thì cần chú ý rằng, kịch bản này có chi phí rất cao, đặc biệt là trong thời gian đầu. Một khi bạn chọn con đường này thì phải sẵn sàng trả học phí cho việc nhập học. Vì có thể bạn phải làm việc nhiều giờ hơn và kiếm được ít tiền hơn so với những người xung quanh.
Ông Jiro OnoJiro là một người thợ làm sushi hạnh phúc, ông yêu công việc và thực hiện nó hầu như suốt cả cuộc đời

Jiro đã phải chấp nhận xa gia đình, xa những đứa con đang lớn của mình để tập trung toàn bộ thời gian vào công việc học hỏi và sản xuất sushi. Có lúc ông phải chống chọi với sự đói nghèo. Những đứa trẻ của ông phải tiết kiệm hàng tháng trời mới đủ tiền mua được một lon coca-cola.

Cuộc sống của Jiro hôm nay lại khác, ông trở thành giàu có và nổi tiếng với chính niềm đam mê của mình. Mối quan hệ cha con ngày càng thân thiết khi hai con trai của ông quyết định nối nghiệp sushi của cha. Ông kiên trì lót những viên đá thành con đường thành công từ chính cái bếp sushi nhỏ của mình.

Jiro đã thấy được ước mơ của ông không thể thực hiện được qua những giải pháp nhanh chóng, mà là một sự khổ luyện thậm chí đôi khi là đau đớn để hoàn thành.

Khi bạn "kết hôn" với công việc, sống với nó, phần thưởng bạn nhận được luôn luôn xứng đáng.

Calvin Klein: Bí quyết nằm ở sự đơn giản

Điều đáng nói nhất về thương hiệu này chính là việc Calvin Klein biết cách biến tính đơn giản thành bản sắc riêng và độc đáo. Điều này trở thành bí quyết mà các thương hiệu khác dẫu có muốn cũng không thể sao chép được.

Sự tình cờ của số phận

Trong tất cả các dòng sản phẩm mang tên thương hiệu, Calvin Klein đều trung thành với nguyên tắc "đơn giản như có thể được để độc đáo như có thể được"

Calvin Klein sinh năm 1942 ở New York (Mỹ), là người Do Thái gốc Hungari. Năm 1962, Calvin Klein tốt nghiệp Viện Công nghệ Thời trang về thiết kế quần áo, còn trước đó ông đã theo học ở Trường Đại học Nghệ thuật và Thiết kế. Lúc đầu, Calvin Klein kiếm sống bằng việc làm trợ lý thiết kế cho một xưởng may áo khoác, áo choàng ngoài và thiết kế thời trang cho một tạp chí dành riêng cho phụ nữ. Năm 1968, Calvin Klein cùng với người bạn là Barry Schwartz thành lập công ty riêng từ một quyết định ngẫu hứng.

Barry Schwartz góp vốn 10.000 USD và Calvin Klein góp 2.000 USD. Trụ sở của công ty được đặt trong một khách sạn. Trong những năm đầu tiên, Calvin Klein gần như chìm nghỉm trong thế giới thời trang. Tuy hai người không thiếu nhiệt huyết và ý tưởng sáng tạo, quyết tâm và ý chí dựng nghiệp, nhưng do không có đủ vốn đầu tư nên không thể tạo ra được bước chuyển mang tính quyết định.

Nếu không có chuyện ngẫu nhiên thì có lẽ Calvin Klein không được như ngày nay. Một ngày, một người đi tìm nguồn hàng của tập đoàn Bonwit Teller - vốn là một trong những tập đoàn siêu thị lớn nhất ở nước Mỹ, về sau bị phá sản - lạc lối trong khách sạn nên vào nhầm trụ sở công ty của Calvin Klein. Sản phẩm của Calvin Klein đã gây ấn tượng sâu đậm với người này đến mức anh ta đặt ngay 50.000 sản phẩm. Vậy là Calvin Klein không chỉ có được đơn đặt hàng lớn đầu tiên mà còn được chính thức hiện diện trong chuỗi siêu thị của Bonwit Teller trên khắp nước Mỹ và ở cả bên ngoài nước Mỹ. Sự tình cờ này đã làm thay đổi cả cuộc đời của Calvin Klein và Barry Schwartz cũng như tạo bệ phóng cho thương hiệu thăng thiên.

Còn hai người nữa đóng vai trò rất quyết định tới thành công của thương hiệu này. Họ đều là diễn viên điện ảnh, đó là Brooke Shields và Mark Wahlberg. Họ quảng cáo cho thương hiệu trước tất cả những người mẫu chuyên nghiệp khác. Họ đã giúp thương hiệu nổi danh. Còn sau này, lại chính thương hiệu Calvin Klein giúp những người mẫu chuyên nghiệp nổi danh, điển hình nhất là Kate Moss.

Brooke Shields đã giúp cho quần bò mang tên thương hiệu Calvin Klein bán chạy nhất vào giữa thời kỳ thị trường quần bò ở Mỹ gần như đã bão hoà. Ở tuổi 15, Brooke Shields vận quần bò của Calvin Klein, ngồi trong tư thế thoải mái và gợi cảm, đặt câu hỏi với giọng nói đầy vẻ khiêu khích: "Các bạn có biết có cái gì giữa tôi và thương hiệu Calvin Klein không? Không có gì cả". Chiêu quảng cáo này của Calvin Klein chỉ có vậy mà rất hiệu quả. Sau đó, hàng tuần Calvin Klein bán ra được hơn 400.000 chiếc quần bò. Hay như cách Mark Wahlberg quảng cáo đồ lót đàn ông cho Calvin Klein cũng vậy, cùng một kiểu quảng cáo cho 6 bộ sản phẩm khác nhau mang tên thương hiệu Calvin Klein. Đơn giản và ngắn gọn, ít mỹ từ và không nhạc đệm - Calvin Klein buộc khách hàng phải quan tâm và để ý, tìm hiểu và lựa chọn.

Về sau, Calvin Klein lấn sang cả mỹ phẩm và đồ trang sức. Dòng sản phẩm mới cũng được hiểu là mốt và bổ sung cho thời trang. Năm 2002, Calvin Klein bán công ty của mình cho tập đoàn may áo sơ mi lớn nhất thế giới Phillips-Van Heusen với giá 430 triệu USD. Thời đó, doanh thu của công ty là hơn 3 tỷ USD. Năm 2011, doanh thu của công ty này trong tập đoàn đạt tới 7,6 tỷ USD. Calvin Klein không còn tham gia, chi phối và kiểm soát thương hiệu mang tên chính mình nữa và thương hiệu ấy đã thuộc về kẻ khác.

Đơn giản tối đa - Độc đáo tối đa
Calvin Klein (trái) rất khoái trá khi cho rằng sản phẩm mang tên thương hiệu này giúp cho giới mày râu thêm tự tin, thêm bản lĩnh và tính đàn ông

Quần bò và đồ trang sức cũng như mỹ phẩm trở thành mốt thời thượng thì cũng không phải là chuyện lạ. Nhưng làm cho đồ lót cũng trở thành mốt thời trang thì phải đến thời Calvin Klein mới có và thương hiệu này đi tiên phong. Calvin Klein còn làm ra loại nước hoa "CK One" thích hợp cho cả phụ nữ lẫn nam giới - những người vốn trước đó chưa từng có trong thế giới nước hoa. Các nhà viết sử thương hiệu đều cho rằng, bí quyết thành công lớn nhất của thương hiệu này là đã làm cho mọi sản phẩm tưởng như chỉ có giá trị sử dụng thông thường trở thành mốt thời thượng.

Trong tất cả các dòng sản phẩm mang tên thương hiệu, Calvin Klein đều trung thành với nguyên tắc "đơn giản như có thể được để độc đáo như có thể được". Từ thiết kế mẫu mã đến chất liệu sử dụng, dù đó là quần áo ngoài hay đồ lót, đồng hồ hay kính, giày dép hay đồ gia dụng, đồ trang sức hay nước hoa, tất cả đều có biểu hiện bề ngoài thuần nhất và cân xứng rất dễ nhận biết, không cầu kỳ về chi tiết và rực rỡ về màu sắc, hợp lý và thích hợp với mọi khách hàng chứ không dành cho riêng ai. Đơn giản vậy mà lại đẹp, tiện ích và hấp dẫn.

Cách thức quảng cáo và tiếp thị của Calvin Klein luôn khác thường ở tính khiêu khích, không phô trương mà cuốn hút khách hàng tự tìm hiểu và tìm đến với thương hiệu. Đối với Calvin Klein, thời trang không chỉ là cái được phô bày ra bên ngoài mà còn được người sử dụng cảm nhận cả ở bên trong, không chỉ được người khác công nhận mà còn được chính mình trải nghiệm. Hàm ý ấy được thể hiện rất rõ trong câu trả lời phỏng vấn của cô con gái Marci của Calvin Klein: "Mỗi lần lên giường ngủ với một người đàn ông, tôi đều nhìn thấy quần lót của cha tôi". Calvin Klein không thích thú về những kết luận có thể rút ra được từ đó về cuộc sống tình ái và tình dục của cô con gái rượu, nhưng lại rất khoái trá khi cho rằng sản phẩm mang tên thương hiệu này giúp cho giới mày râu thêm tự tin, thêm bản lĩnh và tính đàn ông.

Năm nay Calvin Klein 70 tuổi và chỉ còn gắn bó với thương hiệu bằng cái tên của chính mình. Thương hiệu tiếp tục sáng ngay cả sau khi Calvin Klein không còn sở hữu nó, chính là nhờ bản sắc độc đáo đã được Calvin Klein định hình. Nhưng công bằng mà nói, sự tỏa sáng của thương hiệu này ngay cả ở thời thiếu vắng Calvin Klein cũng đã đóng góp rất quan trọng vào việc làm cho Calvin Klein trở thành một trong những nhà thiết kế thời trang có ảnh hưởng nhất và thành công nhất trên thế giới.

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Tốt nghiệp y khoa, thành danh với cặp xách

Tốt nghiệp y khoa nhưng Nguyễn Trí Kiên lại thành danh với ngành sản xuất cặp học sinh, ba lô, va li cần kéo… Càng bất ngờ hơn khi doanh nhân trẻ này với sản phẩm cặp siêu nhẹ cho học sinh mà anh “khai sinh” đã nhanh chóng đánh bật cặp xách Trung Quốc vốn làm mưa làm gió trên thị trường.

Nguyễn Trí Kiên - người "đánh bật" cặp xách Trung Quốc vốn làm mưa làm gió trên thương trường

Bước ngoặt cơ duyên


Sau bao năm tháng lăn lộn trên thương trường, giờ Nguyễn Trí Kiên đã trở thành Tổng giám đốc Công ty TNHH may túi xách Minh Tiến, trụ sở ở P.3, Q.8, TP.HCM.

Thoạt đầu mới gặp trông anh có vẻ là người trầm tĩnh nhưng càng nói chuyện với anh, sẽ càng nhận ra bên trong vẻ trầm tĩnh ấy luôn nung nấu những khát khao vươn lên với ngành may túi xách vốn là nghề truyền thống của gia đình anh bao năm nay.

Thật ra cho đến khi đã tốt nghiệp đại học, Nguyễn Trí Kiên vẫn chưa hề nghĩ rằng có ngày anh lại trở thành doanh nhân. Bố mẹ anh sống bằng nghề may túi xách, cặp học sinh rồi bỏ mối ở các chợ. Chỉ là cơ sở nhỏ nên ba mẹ anh phải quần quật suốt ngày để anh chuyên tâm học hành, trở thành bác sĩ như mong ước của mọi người trong gia đình.

Khó khăn buổi đầu không thể nói hết khi Nguyễn Trí Kiên rẽ sang “chiến đấu” trên thương trường. Khắc phục điều này, anh không ngừng học hỏi kiến thức và tích lũy kinh nghiệm về kinh doanh để lèo lái “con thuyền” của mình sao cho nó không bị chìm trong những ngày đầu khởi sự doanh nghiệp.

Chính sự ham học hỏi ấy đã giúp anh từng bước gầy dựng cơ ngơi thành công như kỳ vọng. Ra trường, anh vừa làm việc ở bệnh viện, vừa tiếp tục học chương trình sau đại học để nâng cao kiến thức.

“Công việc của một bác sĩ nhi lúc đó cũng khá tốt với tôi. Sở dĩ tôi nghỉ việc ở bệnh viện, về phụ giúp ba mẹ vì là con trai duy nhất trong gia đình, tôi muốn gánh vác bớt những khó khăn, cực nhọc cho ba mẹ và các em.

Lúc ấy, tôi nghĩ mình chỉ tạm ngưng nghề bác sĩ một vài năm, khi nào việc kinh doanh của gia đình khá lên một chút thì tôi có thể yên tâm trở lại công việc mình yêu thích. Nhưng không ngờ tôi lại thích và theo luôn nghề này cho đến hôm nay. Đó như là một bước ngoặt cơ duyên đối với tôi”, anh Kiên tâm sự.

Đánh bật cặp xách Trung Quốc
Bước tiến quan trọng của doanh nghiệp do Nguyễn Trí Kiên làm quản lý là nhờ không ngừng sáng tạo, làm ra những sản phẩm hoàn hảo về chất lượng, tạo cảm giác thoải mái cho người sử dụng.

Bây giờ lên miền núi hay đến những vùng nông thôn xa xôi, thật không khó nhận thấy cảnh những em học sinh mang túi xách thương hiệu Miti tung tăng đến trường. Để có được sức lan tỏa rộng lớn như vậy thật sự là cả một quá trình miệt mài nỗ lực của tập thể Minh Tiến.

Những năm thập niên 90 của thế kỷ 20, chuyện tạo dựng thương hiệu còn khá mơ hồ, nhất là trong ngành túi xách. Người ta chỉ biết sản xuất rồi mang ra chợ bán, chứ không nghĩ phải tạo ra một cái tên để người tiêu dùng nhớ đến sản phẩm của mình.

Thời điểm đó chưa có những đơn vị tư vấn về thương hiệu như bây giờ, nên mọi thứ tôi đều phải tự làm. Đã có nhiều cái tên được viết ra và đến giờ tôi vẫn còn giữ cuốn sổ ghi những cái tên ấy. Tôi nghĩ rằng, một sản phẩm, một thương hiệu thành công đầu tiên là nhờ cái tên và tôi đã làm được điều đó”, anh Kiên nhớ lại.

Một điều oái oăm là mặc dù khi đã có thương hiệu Miti gắn lên túi xách, cặp học sinh, ba lô... lần đầu tiên do cơ sở Minh Tiến sản xuất với chất lượng tốt nhưng ra thị trường thì bị lâm vào cảnh “hồn Trương Ba da hàng thịt”. Lý do là người tiêu dùng thời đó quen với hàng nhái, hàng giả các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài, chứ hàng của Việt Nam sản xuất thì chính người dân của mình lại không ưa.

“Lúc ấy các đầu mối phân phối hàng ở Chợ Lớn rất quyền lực. Thật sự các nhà sản xuất không ai dám làm phật lòng, lúc nào cũng phải cung phụng, chiều chuộng họ. Chúng tôi gắn nhãn Miti vào sản phẩm rồi chuyển cho họ bán thì đều bị giật ra, tự gắn nhãn khác vào”, anh Kiên kể.

Kiên trì với mục tiêu đã đề ra, anh tính đến chuyện lập hệ thống phân phối thông qua chuỗi cửa hàng Miti, thay cho kênh phân phối truyền thống lâu nay. Một năm sau khi Minh Tiến tung sản phẩm cặp siêu nhẹ mang tính đột phá (chỉ nặng 600 gr) ra thị trường, các đơn vị khác cũng bắt tay vào sản xuất loại cặp này và đã đánh bật được cặp xách Trung Quốc trước đó vốn làm mưa làm gió tại thị trường Việt Nam.

Khát vọng vươn ra biển lớn
Từ một cơ sở sản xuất gia đình với vỏn vẹn hơn 10 người thợ, chủ yếu làm hàng chợ chẳng mấy tên tuổi nhưng đến nay sản phẩm của Miti chiếm khoảng 30 - 40% thị trường ở TP.HCM và hứa hẹn sẽ còn tăng thêm trong thời gian tới.

Minh Tiến đang có hai nhà máy công suất 500.000 sản phẩm/năm, sản xuất 8 nhóm sản phẩm: cặp học sinh, va li, ba lô, ví da, thắt lưng, cặp công sở và túi du lịch với doanh thu hơn 100 tỉ đồng mỗi năm, hệ thống cửa hàng trải dài khắp cả nước.

Đặc biệt là sản phẩm của Miti đã giúp cho các thế hệ học sinh không còn nguy cơ bị lệch cột sống, không bị biến dạng thể chất như các sản phẩm nặng nề, kém chất lượng trôi nổi trên thị trường.

Nhưng Miti vẫn chưa muốn dừng lại. Kiên bảo vẫn phải luôn cập nhật kiến thức liên tục để gầy dựng mô hình “công ty học tập”, huấn luyện nhân viên, mang lại cho họ những khát vọng và có chung tầm nhìn để cùng đưa doanh nghiệp vươn ra biển lớn.

Sự cẩu thả trong sản xuất hàng tiêu dùng không chỉ giết chết doanh nghiệp mà còn gây tác động tiêu cực đến đời sống xã hội. Vì thế điều quan trọng là mình không chỉ bán sản phẩm mà còn phải bán niềm vui cho người tiêu dùng.

George Soros – Huyền thoại đầu cơ

George Soros, một trong những tỷ phú nổi tiếng bậc nhất thế giới đang có mặt tại Việt Nam. Trong lĩnh vực tài chính, ông đã trở thành huyền thoại.“Khi mọi người đi đường bên tay phải, ông lặng lẽ tách khỏi mọi người để đi bên tay trái và rồi bất chợt mọi người nhận ra mình đang đi ở nước Anh” (nơi các phương tiện đi bên tay trái mới đúng luật). Đó là lời nhận xét mà tờ The Wall Street Journal giành cho nhà đầu tư vĩ đại bậc nhất thế giới George Soros.

Từ 5000 USD đến 7,2 tỷ USD




George Soros là người gốc Do Thái. Ông sinh năm 1930 ra tại Hungary. Có thể nói ông sinh ra vào thời điểm khó khăn nhất mà những người gốc Do Thái phải trải qua. Thế chiến II bùng nổ, những người gốc Do Thái bị săn đuổi dữ dội, bị thiêu rụi trong những lò thiêu người.

May mắn sống sót nhưng sau khi Thế chiến chấm dứt, kinh tế Hungary tan hoang. George Soros đã một thân một mình tìm đường di cư sang London - Anh năm1947. Tại thủ đô hoa lệ London, ông xin làm bồi bàn ở quán ăn Quaglino. Thời gian rảnh rỗi ông làm thêm nghề thu hoạch táo và sơn nhà thuê.

Tiền dành dụm sau những năm tháng khổ cực, George Soros đem tất cả để ghi danh vào Học viện kinh tế London. Có thể nói đây là thương vụ đầu tư đáng kể nhất của Soros bởi sau đó ông nổi tiếng không phải với vai trò của một nhà đầu tư mà là một nhà đầu cơ đầy nhạy cảm và quyết đoán.

Để có thể trang trải cuộc sống sinh viên, ông phải gác đêm ở một ga tàu hỏa sau giờ học. Tuy nhiên những nỗ lực của ông đã được đền đáp, Soros tốt nghiệp trường Kinh doanh London vào năm 1952.

Sau khi tốt nghiệp, George Soros làm nhân viên tại Công ty Singer & Friedlander. Công việc khá buồn tẻ và khi biết có một hãng môi giới chứng khoán có trụ sở tại thành phố New York đang khuyết một chân thử việc, ông lập tức chuyển đến Mỹ.

Tại đây, với 5.000 USD khởi nghiệp, ngày nay George Soros đã có tổng tài sản 7,2 tỷ USD, là người giàu thứ 24 trên thế giới.

Một trong những yếu tố đem lại thành công cho George Soros đó là khi chuyển đến sinh sống ở Mỹ, ông là người am hiểu rất rõ thị trường châu Âu trong khi những nhà đầu tư Mỹ thì hoàn toàn mù mịt thông tin trước thị trường đầy tiềm năng này.

Sau khi làm môi giới ở Wall Street, ông khuyên hai thân chủ của mình mua thật nhiều cổ phiếu hãng bảo hiểu Allianz bởi theo ông giá cổ phiếu của công ty này đang thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế.

Ông cũng thuyết phục Ban giám đốc của Allianz rằng giá của Allianz đáng nhẽ phải lớn hơn nhiều nếu công ty này biết quảng bá hình ảnh thương hiệu nhiều hơn. Quả nhiên sau đó cổ phiếu của Alllianz tăng vọt. Thương vụ đầu tiên của Soros thành công mỹ mãn.

Những chiến thắng liên tiếp khiến Soros trở nên nổi tiếng hơn. Cùng với người đồng sự là Jim Rogers, ông lập ra Quỹ Soros Quantum Fund. Lượng vốn ban đầu của 2 người là 4 triệu USD nhưng sau đó quỹ đã có lúc đạt tới tổng giá trị 12 tỷ USD.

Sau khi sát nhập Soros Quantum Fund với Quantum Emerging Growth Fund và đổi tên thành Quantum Endowment Fund, Soros nắm giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc của Quỹ.

Một trong những bí quyết thành công của Soros đó chính là sự nghiêm túc trong công việc. Là một trong những nhân vật quyền lực và giàu có bậc nhất trong thế giới đầu tư nhưng Soros vẫn làm việc cật lực và miệt mài như những ngày tháng xa xưa khi ông đứng bồi bàn trong nhà hàng ở London. Những người cộng sự nói ông chỉ chủ 2 giờ mỗi đêm.

Ông miệt mài thu thập các thông tin, tỉ mỉ phân tích, xét đoán thị trường rồi ra quyết định mua bán. Quỹ Quantum Endowment Fund luôn được coi là một trong những quỹ đầu tư thành công và uy tín số một. Đó cũng là quỹ đầu tư hùng mạnh bậc nhất trên thế giới hiện nay.

Nhà đầu cơ số 1

Nếu ai đó ghét từ “đầu cơ” thì George Soros được coi là một trong những nhà đầu cơ quyền lực và thành công bậc nhất. Một trong những thương vụ nổi tiếng của Soros là vụ đầu cơ vào đồng bảng Anh.

Năm 1992, sau khi nhận định về tiên đoán về sự biến chuyển của thị trường tiền tệ thế giới, Sorros đã dùng toàn bộ gia sản và thậm chí còn vay hàng tỷ Bảng Anh đem mua đồng Mac Đức. Chỉ sau đó 1 tuần, đồng bảng Anh rớt giá thảm hại do không đủ điều kiện gia nhập đồng Euro.
Khi đó ông đổi tiền Mac Đức về Bảng Anh rồi trả nợ, số tiền thu lợi được từ thương vụ để đời này của Soros là 1 tỷ dollar. Sau vụ việc này người ta đặt cho Soros danh hiệu: “Kẻ khuynh đảo giá trị đồng tiền”.

Sau những thương vụ “buôn tiền” thành công của mình, dường như nhận định trên càng trở nên xác đáng khi hiện nay đứng sau Soros là cả phố Wall, thị trường chứng khoán London và hàng loạt những tổ chức tài chính khác sẵn sàng nhắm mắt đầu tư theo Soros bởi uy tín và sức ảnh hưởng của ông.

Có thể nói quan điểm đầu tư của Soros hoàn toàn trái ngược với cây đại thụ đầu tư khác là Warren Buffet. Nếu như Buffet nổi tiếng với hai nguyên tắc “1.Không để mất tiền; 2.Không quên nguyên tắc 1” thì Soros sẵn sáng mạo hiểm. Chính bởi sự mạo hiểm đó mà Soros đã nhiều lần chịu những tổn thất tài chính không nhỏ.

Tháng 10/1987, khi mọi người nghi ngại trước sự tăng trưởng bong bóng cả thị trường chứng khoán Mỹ thì George Soros vẫn đẩy mạnh đầu tư. Và sau đó sự kiện “Ngày thứ hai đen tối” nổ ra. Chỉ số Dow Jones đã giảm kỷ lục 508 điểm, tức 22,61% chỉ trong một ngày. Sự kiện đó khiến George Soros cũng bị thiệt hại 300 triệu USD.

Thương vụ sau còn đau đớn hơn nhiều. Năm 1999, Soros tiên đoán những công ty Công nghệ thông tin sẽ suy sụp và bán toàn bộ cổ phiếu của những công ty này ra công chúng.

Tuy nhiên thị trường Công nghệ thông tin vẫn làm ăn phát đạt và giá cổ phiếu vẫn tăng. Soros chịu tổn thất 700 triệu USD do bán sớm cổ phiếu. Sau đó nghĩ rằng mình sai lầm, ông bỏ tiền ra mua lại những cổ phiếu Công nghệ thông tin với mức giá cao mà không biết rằng mình đang phạm sai lầm kế tiếp.

Năm 2000, chỉ số chứng khoán công nghệ NASDAQ cuối cùng đã rớt thê thảm kéo theo gần 3 tỷ USD tiền đầu tư của George Soros.

Sau thương vụ để đời này George Soros quyết định “rửa tay gác kiếm”, nói lời giã biệt với những biến động không ngừng và khắc nghiệt của phố Wall.

Tuy có vấp váp thất bại nhưng có thể nói những thương vụ thành công của Soros đã tạo ra những khoản tài chính dồi dào đủ lấp đầy nhiều lần lỗ hồng tài chính của những lần thất bại. Vậy nên ông vẫn rất trung thành với quan điểm đầu tư của mình: “Bạn có thể quyết định đúng hay sai. Điều đó không quan trọng. Quan trọng nhất là bao nhiêu tiền sẽ được và mất từ những quyết định đó”.

Cách làm của Soros có thể được coi là phương thức đầu tư của một người theo trường phái phân tích kỹ thuật (tecknical analysis) điển hình: “Thị trường tiền tệ phụ thuộc vào người mua và người bán. Và họ thường hành động theo cảm tính”.

George Soros cố gắng hiểu được hướng đi của số đông nhưng ông cũng biết tạo ra những hướng đi riêng và rồi kéo mọi người đi theo.

Lọc lõi và ranh ma trên thương trường nhưng trong đời sống, George Soros luôn được mọi người kính trọng bởi những hoạt động từ thiện và những đóng góp to lớn của ông vì một xã hội tốt đẹp hơn. Ông đáng kể là nhà đầu cơ vĩ đại bậc nhất thế giới.

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Bài học kinh doanh từ người sáng lập The Body Shop

Anita Roddick không chỉ sở hữu một sự nghiệp kinh doanh thành công vang dội trên nhiều lĩnh vực (từ nhà hàng, khách sạn tới mỹ phẩm), mà còn bởi triết lý kinh doanh sâu sắc và những bài học kinh nghiệm quí giá bà đã thu thập và chia sẻ ngay từ những ngày đầu khởi nghiệp.

Dừng đúng lúc


Anita Roddick được công nhận là nhà tiên phong thành công nhất trong lĩnh vực sản xuất mỹ phẩm thân thiện môi trường với sản phẩm "The Body Shop". Khá lâu trước khi thành công thương hiệu này, Anita Roddick đã khởi nghiệp với công việc kinh doanh khách sạn. Khi đó, bà cùng đối tác Gordon đã phạm một sai lầm nghiêm trọng khiến công việc kinh doanh thua lỗ nặng.

Ngay cả khi đã bán khách sạn để trả nợ, Anita và Gordon vẫn gần như trắng tay. Thất bại đầu tiên đã giúp Anita hiểu ra chân lý: Đừng bao giờ dấn thân quá sâu vào những lĩnh vực mà sự hiểu biết của bạn chỉ dừng ở mức cơ bản, cũng như phải luôn biết điểm dừng.

Nhanh chóng, Anita và Gordon gác lại dự án về khách sạn và tiến hành kế hoạch kinh doanh thứ hai, một nhà hàng Ý với các món ăn có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, lại một lần nữa, thất vọng tràn ngập trong nhà hàng của Anita. Sau nhiều đêm ngẫm nghĩ, Anita và Gordon nhận ra họ đã mở một cửa hàng Ý sang trọng ngay giữa một thị trấn chỉ toàn "trứng gà và cát sỏi".

Anita và Gordon đã chuyển từ thực đơn sang trọng với các món ăn tốt cho sức khỏe sang bít tết, burger và khoai tây chiên. Thay đổi này nhanh chóng biến nhà hàng của họ thành địa điểm nổi tiếng nhất trong thị trấn.

Một vài năm sau thành công với nhà hàng bình dân, Anita tiếp tục với ý tưởng "The Body Shop", một cửa hàng mỹ phẩm nơi không có những gói hàng cầu kì, không thử nghiệm trên động vật và hoàn toàn thiên nhiên. "The Body Shop" được đánh giá là dự án chứa đựng tâm huyết và triết lý kinh doanh của Anita Roddick. Theo đó, bà cho rằng những doanh nhân thành đạt phải làm cho thế giới trở nên tốt đẹp, an toàn và văn minh hơn.

Quá trình thành lập "The Body Shop" cũng là một khoảng thời gian đáng nhớ với Anita. Sau khi tích lũy được một số khái niệm cơ bản về ngành kinh doanh mỹ phẩm, Anita cần đến 4.000 bảng để bắt đầu. Dĩ nhiên, bà đã tìm đến ngân hàng để xin giúp đỡ. Tuy nhiên, với vẻ ngoài tuềnh toàng (quần jean, áo T – shirt), chiếc xe tải cũ đỗ ở bên ngoài, dù đã thể hiện một cách đầy cảm hứng ý tưởng của mình với người quản lý ngân hàng, dự án "The Body Shop" của bà vẫn bị bác bỏ. Lại thêm một bài học mới cho Anita Roddick.

Niềm say mê chưa phải là tất cả. Nếu bạn muốn gây ấn tượng với một nhà quản lý danh mục đầu tư ngân hàng, bạn sẽ cần tới một kế hoạch kinh doanh, và diện mạo của một nhà kinh doanh. Lần trở lại tiếp theo trong bộ dạng tề chỉnh, Anita đã nhận được khoản cho vay.

Kinh nghiệm từ những lần kinh doanh không mấy dễ dàng trước đã giúp Anita thấu hiểu tầm quan trọng của marketing và quảng bá công chúng.

Thay đổi kịp thời

Anita Roddick và áp phích quảng cáo sản phẩm The Body Shop

Khi cửa hàng "The Body Shop" đầu tiên được mở ra, cái tên của cửa hàng đã vấp phải một số lời chỉ trích và dọa dẫm kiện lên tòa. Thay vì nhanh chóng đóng cửa và thay tên hiệu, Anita đã lợi dụng vụ kiện này để quảng bá cho thương hiệu của mình. Bà đã sử dụng đến truyền thông và các phương tiện báo đài để cái tên "The Body Shop" được truyền đi xa.

Từ cửa hàng nhỏ tại Brighton (Anh quốc), sự nghiệp kinh doanh mỹ phẩm của Anita sớm khởi sắc, phát triển với qui mô toàn thế giới. Từ năm 1978 đến năm 1982, trung bình mỗi tháng, Anita Roddick mở thêm hai cửa hàng mới. Đến năm 1985, The Body Shop được niêm yết trên thị trường chứng khoán London. Từ đó đến nay, The Body Shop liên tục chiếm lĩnh thị trường thế giới. Hiện tại, vòng quay vốn một năm của The Body Shop vào khoảng 1 tỷ USD.

Tổng kết về quá trình kinh doanh, Anita Roddick cho rằng: "Bài học quan trọng nhất đối với những người mới bắt đầu kinh doanh là nếu bạn phạm phải sai lầm, hãy thừa nhận và đưa ra ngay các biện pháp để thay đổi tình thế".

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Vài điều về tỷ phú kiếm tiền nhiều nhất năm 2012

Là một người nổi tiếng kín đáo nên những thông tin về cuộc sống của ông thu hút sự quan tâm rất lớn từ giới truyền thông. Amancio Ortega là tỷ phú sở hữu những tài tài sản vô cùng giá trị nhưng ông lại chuộng lối sống giản dị.


Amancio Ortega, 76 tuổi đã trở thành tỷ phú kiếm tiền nhiều nhất thế giới năm 2012 khi chỉ trong 12 tháng ông bỏ túi đến 22,2 tỷ USD.

Ông cùng người vợ cũ Rosalia đã đồng sáng lập ra thương hiệu đình đám Zara vào năm 1975. Giờ đây, chuỗi bán lẻ hiện có đến 1.500 cửa hàng tại 70 quốc gia trên thế giới, phát triển mạnh mẽ tại châu Âu và lan rộng sang châu Á.

Hiện ước tính tài sản của ông lên tới con số 57,5 tỷ USD.

1.Amancio Ortega là một trong những tỷ phú giàu nhất châu Âu với tài sản ước tính trị giá đến 57,5 tỷ USD


2. Người vợ thứ hai của ông là bà Flora. Cặp đôi này chính thức kết hôn vào năm 2001


3. Đây là con gái của tỷ phú, cô Marta năm nay 28 tuổi, vừa kết hôn với tay cưỡi ngựa hàng đầu Tây Ban Nha Sergio Álvarez Moya hồi đầu năm nay. Cô mặc chiếc váy cưới của Narciso Rodríguez.


4. Ortega và vợ sống trong một căn hộ mộc mạc tại La Coruña, Tây Ban Nha gần một hải cảng lớn của Đại Tây Dương


5. Kate Middleton là một fan trung thành của thương hiệu Zara.


6. Ortega được biết đến là người vô cùng kín đáo. Từ trước tới nay, ông mới chỉ nhận lời mời phỏng vấn của ba nhà báo.

7. Vị tỷ phú kín tiếng ăn mặc cũng rất giản dị. Ông chỉ mặc những bộ đồ đơn giản: chiếc áo khoác màu xanh, áo sơ mi trắng, chiếc quần xám. Tuy nhiên chúng không phải là sản phẩm của Zara.


8. Tỷ phú trung thành với một quán cà phê, ông tới đó mỗi ngày. Không những thế, đại tỷ phú còn thường xuyên ăn trưa cùng nhân viên của mình trong nhà ăn công ty.

9. Vào lúc rảnh rỗi, Ortega thích cưỡi ngựa. Ông cũng sở hữu một trường đua ở Finisterre, Galicia, Tây Ban Nha.


10. Ortega cũng mua tòa nhà cao nhất Tây Ban Nha Torre Picasso ở thành phố Madrid. Tòa nhà cao 515 foot (157 mét) và có giá 536 triệu USD.


11. Khách sạn Epic Residences & Hotel ở Miami được cho là một trong những khách sạn xa xỉ tốt nhất tại Mỹ cũng thuộc quyền sở hữu của tỷ phú này.


12. Ortega lái một chiếc Audi A8 bởi sự tiện nghi và thoải mái hơn là sự xa xỉ.


13. Ông cũng là chủ nhân của chiếc Global Express BD-700, trực thăng tư nhân của hãng Bombardier, một trong những nhà sản xuất máy bay tư nhân cao cấp hàng đầu thế giới. Nó có giá 45 triệu USD.

14. Thế nhưng rất hiếm khi tỷ phú sử dụng trực thăng để đi du lịch hay nghỉ mát. Ông cho biết, ông yêu thích công việc của mình và muốn giành nhiều thời gian hơn nữa để cống hiến.

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Nữ tỷ phú xinh đẹp của làng thời trang thế giới

Bắt tay vào công việc thiết kế năm 2004, đến nay, tỷ phú quyến rũ nhất hành tinh Tory Burch đã sở hữu 1 tỷ USD tài sản với hệ thống 49 cửa hàng tại Mỹ và 24 trên toàn cầu.

Khởi nghiệp chưa đầy 10 năm, nhưng Tory Burch đã trở thành tỷ phú với số tài sản trị giá 1 tỷ USD. 28,3% cổ phần trong hãng thời trang mang tên mình của cô được Forbes định giá trên 3,5 tỷ USD.

Thành lập công ty năm 2004, Burch phải cạnh tranh với rất nhiều thương hiệu đi trước như Coach, Michael Kors, Kate Spade và cuối cùng đã giành chiến thắng. Những chiếc túi xách, kính râm và giày bệt của cô được bày khắp các kệ hàng tại Trung tâm thương mại Bloomingdale's, Nordstrom và Saks.

Ban đầu, Burch chỉ là người viết bài quảng cáo thời trang. Sau khi được chồng cũ là ông trùm bán lẻ Christopher Burch tài trợ 2 triệu USD, cô bắt tay vào thiết kế ngay trong căn bếp nhà mình. Nhờ lời ngợi khen của nữ hoàng truyền hình Oprah Winfrey, sản phẩm của Burch bắt đầu được để ý và nhanh chóng trở nên nổi tiếng.



Tory Burch lớn lên tại Philadelphia (Mỹ). Mẹ cô là cựu diễn viên, trong khi cha cô là một nhà đầu tư. Sau khi tốt nghiệp trung học, Burch được nhận vào Đại học Pennsylvania.


Burch từng viết quảng cáo thời trang cho Vera Wang, Ralph Lauren và Bazaar trước khi bắt tay vào thiết kế.


Năm 2004, cô mở cửa hàng đầu tiên tại khu phố bán lẻ NoLita (New York).


Sau đó, năm 2005, website Toryburch.com ra đời và nhanh chóng nổi tiếng với các dòng sản phẩm về áo phông.



Năm 2005, Burch được biết đến nhiều hơn khi được nữ hoàng truyền hình Oprah Winfrey khen ngợi. Oprah nói rằng bà là fan của Tory Burch và gọi cô là "điểm nhấn mới của làng thời trang".


Năm 2006, Burch tạo ra mẫu giày ballet "Reva". Loại giày bệt này đã nhanh chóng trở thành xu hướng thời trang đi làm và mặc nhà của nhiều phụ nữ.


Năm 2008, Hội đồng các nhà thiết kế thời trang Mỹ bình chọn cô là Nhà thiết kế phụ kiện của năm. Để giành được giải này, Burch đã đánh bại các đối thủ nặng ký như Michael Kors và Marc Jacobs.


Năm 2009, Burch làm khách mời trong một tập phim "Gossip Girl". Dàn diễn viên trong phim cũng thường xuyên diện các thiết kế của cô.


Năm 2010, cô ra mắt bộ sưu tập kính râm. Những sản phẩm này hiện có bán tại các cửa hàng của Nordstrom và Saks.


Năm 2011, Burch đưa các bộ sưu tập của mình lên sàn diễn của Tuần lễ thời trang New York. Tạp chí Vogue sau đó bình luận: "Chúc mừng Tory Burch, vì là người tiên phong trong việc đưa những nét mới mẻ vào trang phục mà không làm mất đi sự sinh động và thực tế của chúng".


Ngày nay, sản phẩm của Tory Burch có mặt tại hơn 1.000 trung tâm thương mại trên toàn thế giới. Cô có 49 cửa hàng tại Mỹ và 24 cửa hàng trên toàn cầu.


Công ty của Burch được Forbes định giá 3,5 tỷ USD và vẫn tiếp tục mở rộng tại Mỹ, châu Âu và châu Á.


Tory Burch cũng xếp thứ 2 trong danh sách 50 CEO quyến rũ nhất thế giới của Business Insider.